- Vị trí – ý nghĩa
Cơ dựng sống bám từ xương chẩm, đốt sống cổ, ngực, thắt lưng → xương cùng, xương chậu.
Nhiệm vụ: giữ cột sống thẳng, hỗ trợ vận động cúi, ngửa, xoay người.
Đông y coi đây là “trụ dương của cơ thể”: nếu yếu → cột sống cong, Đốc mạch bế tắc, tạng phủ suy yếu.
- Liên hệ với kinh lạc – huyệt đạo
Dọc cơ dựng sống là đường đi của Đốc mạch (giữa) và Bàng Quang kinh (hai bên).
Nơi này có hệ thống Bối Du huyệt: Tâm du, Can du, Tỳ du, Phế du, Thận du… mỗi huyệt kết nối trực tiếp với một tạng phủ.
Khi cơ dựng sống co cứng, khí huyết bị “trệ” → sinh đau lưng, mỏi gáy, rối loạn tạng phủ.

- Bệnh chứng theo Đông y
Khí trệ – Huyết ứ: đau mỏi lưng, cứng gáy, vận động khó.
Thận hư – Cốt tủy yếu: lưng mềm, gối mỏi, dễ thoát vị đĩa đệm.
Phong hàn thấp xâm nhập: co rút cơ dựng sống, đau ê ẩm, nặng nề khi trời lạnh.
Can huyết bất túc: gân cơ kém nuôi dưỡng → run rẩy, co giật.
- Điều trị và dưỡng sinh
Châm cứu – bấm huyệt:
Dọc Đốc mạch (Đại chùy, Mệnh môn, Yêu dương quan).
Dọc Bàng Quang kinh (Thận du, Tâm du, Can du, Cách du).
Xoa bóp – day ấn cơ dựng sống: giải phóng co cứng, tăng tuần hoàn.
Dưỡng sinh – khí công:
Thái cực quyền, Dịch cân kinh: giúp kéo giãn cơ dựng sống, điều hòa khí huyết.
Các bài tập “rồng cuộn – hổ vươn” giúp cột sống linh hoạt.
Dược liệu:
Bổ Thận mạnh gân xương: Câu kỷ tử, Thục địa, Lộc giác giao.
Hoạt huyết: Ngưu tất, Đương quy, Xuyên khung.
Trừ thấp: Ý dĩ, Đỗ trọng, Tang ký sinh.
- Ý nghĩa dưỡng sinh
Người xưa nói: “Thận chủ cốt, Can chủ cân, Đốc mạch thông thì hình chính.”
Nghĩa là: muốn lưng thẳng, dáng ngay, phải bổ Thận – dưỡng Can – thông Đốc mạch.
Cơ dựng sống khỏe → cột sống thẳng, tạng phủ được bảo hộ, tinh thần minh mẫn.

